BẢO TRÌ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI-TỒN TẠI VÀ GIẢI PHÁP

  1. GIỚI THIỆU CHUNG

Sau một thời gian làm việc, công trình xây dựng không còn đảm bảo tính năng, công suất làm việc như thiết kế ban đầu. Bảo trì công trình xây dựng là tập hợp các công việc cần thiết nhằm mục đích đảm bảo và duy trì sự làm việc bình thường, khôi phục lại các tính năng như thiết kế ban đầu trong quá trình khai thác, sử dụng.

Nội dung bảo trì công trình xây dựng có thể bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các công việc sau: kiểm tra, quan trắc, kiểm định chất lượng, bảo dưỡng và sửa chữa công trình; bổ sung, thay thế hạng mục, thiết bị công trình để việc khai thác sử dụng công trình đảm bảo an toàn nhưng không bao gồm các hoạt động làm thay đổi công năng, quy mô công trình.

Trong những năm qua có nhiều văn bản hướng dẫn về bảo trì công trình xây dựng nói chung cũng như công trình thủy lợi nói riêng, tuy nhiên có nhiều tồn tại, chồng chéo gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Bài báo nhằm phân tích, đánh giá một cách toàn diện để thấy được những tồn tại và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bảo trì công trình thủy lợi.

  1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện được nghiên cứu tác giả sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

– Phương pháp phân tích và tổng hợp: Tổng hợp các văn bản hướng dẫn và các quy định vầ bảo trì công trình xây dựng để phân tích, đánh giá.

– Phương pháp chuyên gia: Thu thập thông tin, trao đổi chuyên gia trong lĩnh vực quản lý khai thác công trình thủy lợi để phân tích, đánh giá tổng hợp các ý kiến phù hợp với thực tiễn tại các địa phương.

  1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Những tồn tại

(1) Tồn tại trong việc áp dụng định mức bảo trì công trình thủy lợi

Nghị định số 96/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ quy định chi tiết về giá sản phẩm dịch vụ thủy lợi và hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi sau 3 năm thực hiện đến nay vẫn chưa áp dụng được do còn nhiều bất cập. Tại Nghị định này, quy định căn cứ đề lập giá sản phẩm dịch vụ thủy lợi là Định mức kinh tế kỹ thuật do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng và trình Chính Phủ ban hành, nhưng đến nay vẫn chưa có định mức này. Kinh phí sửa chữa thường xuyên công trình thủy lợi không được tính trong cơ cấu giá dẫn đến khó khăn cho đơn vị quản lý.

Tại khoản 3, điều 4 Nghị định 96/2018/NĐ-CP quy định chi phí khấu hao trong giá sản phẩm dịch vụ thủy lợi bao gồm chi phí khấu hao của những tài sản cố định được trích khấu hao theo quy định của Bộ tài chính. Tuy nhiên, tại khoản 6, điều 7 Thông tư 73/2018/TT-BTC ngày 15/8/2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn sử dụng nguồn tài chính trong quản lý, khai thác công trình thủy lợi thì toàn bộ các tài sản được xây bằng đất, bê tông, của các công trình phục vụ tưới tiêu không phải trích khấu hao. Điều này không phù hợp với thực tiễn trong việc xác định giá sản phẩm dịch vụ thủy lợi.

Bên cạnh đó, theo điều 17 Thông tư 05/2019/TT-BNNPTNT ngày 02/5/2019 của Bộ Nông nghiệp & PTNT Quy định chế độ, quy trình bảo trì tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi thì kinh phí bảo trì được tính dựa trên nguyên giá của tài sản cố định. Tuy nhiên, một số công trình thủy lợi lớn không có giá trị nguyên giá theo đánh giá lại mà theo giá trị rất cũ (giá trị từ khi đầu tư công trình) nên giá trị rất sai khác so với giá thực của công trình. Điều này làm cho việc xác định kinh phí bảo trì không chính xác, không phù hợp với thực tiễn.

Bảng 1. Định mức bảo trì theo nguyên giá tài sản cố định

Đơn vị tính: Tỷ lệ %

TT Vùng Biện pháp công trình
    Công trình

trọng lực

Công trình

động lực

Kết hợp

động lực

và  trọng lực

1 Miền núi phía Bắc 0,55-:-2,00 0,70-:-2,10 0,65-:-2,05
2 Đồng bằng sông Hồng 0,40-:-1,80 0,50-:-1,85 0,45-:-1,90
3 Trung bộ 0,45-:-1,85 0,60-:-2,10 0,55-:-1,80
4 Tây Nguyên 0,80-:-2,10 1,00-:-2,20 0,85-:-2,15
5 Đông Nam bộ 0,40-:-1,80 0,50-:-1,85 0,45-:-1,90
6 Đồng bằng sông Cửu Long 0,60-:-1,80 0,75-:-1,85 0,65-:-1,90

Tại Khoản 3, Điều 16, Thông tư số 05/2019/TT-BNNPTNT quy định chủ sở hữu công trình quyết định hạn mức kinh phí bảo trì, nhưng hầu hết các địa phương chưa có quy định này, dẫn đến cơ chế xin-cho, kém minh bạch.

Điều này cho thấy việc xác định kinh phí bảo trì gặp rất nhiều khó khăn vướng mắc, đến nay vẫn chưa giải quyết được.

(2) Tồn tại trong việc quyết toán dự án hoàn thành đối với kinh phí bảo trì sử dụng vốn ngân sách chi thường xuyên

Theo quy định tại Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, trong đó tại Khoản 2 Điều 35 về có quy định chi phí cho công tác bảo trì có thể được lấy từ nguồn vốn ngân sách nhà nước chi thường xuyên. Cũng tại Điểm d Khoản 3 Điều 35 Nghị định này cũng ghi rõ chi phí kiểm toán, thẩm tra phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành nằm trong hạng mục chi phí khác của kinh phí bảo trì. Như vậy, theo Nghị định này, việc quyết toán kinh phí bảo trì của công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước chi thường xuyên là phải thực hiện.

Tuy nhiên, Điều 6 Thông tư số 65/2021/TT-BTC ngày 29 tháng 7 năm 2021 của Bộ Tài chính quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công, trong đó quy định: “Các cơ quan, đơn vị tổng hợp chung trong báo cáo quyết toán hàng năm theo quy định tại Thông tư số 107/2017/TT-BTC ngày 10 tháng 10 năm 2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán hành chính sự nghiệp; Thông tư số 137/2017/TT-BTC ngày 25 tháng 12 năm 2017 của Bộ Tài chính quy định xét duyệt, thẩm định, thông báo và tổng hợp quyết toán năm và các văn bản liên quan.” Như vậy, Thông tư này quy định các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước chi thường xuyên không phải thực hiện quyết toán dự án hoàn thành đối với hạng mục kinh phí bảo trì.

Như vậy, Thông tư số 65/2021/TT-BTC và Nghị định số 06/2021/NĐ-CP có sự sai khác về việc lập quyết toán dự án hoàn thành đối với kinh phí bảo trì sử dụng vốn chi thường xuyên, gây khó khăn cho người thực hiện.

3.2. Một số đề xuất

(1) Lập và ban hành định mức kinh tế kỹ thuật

Cần sớm lập và ban hành định mức kinh tế kỹ thuật chung cho công tác quản lý, vận hành công trình thủy lợi. Trong quá trình lập định mức kinh tế kỹ thuật (KTKT) cần chú ý các nội dung sau:

– Tính Đơn giá đặt hàng riêng theo từng nội dung công việc trong Định mức KTKT gồm các loại đơn giá như sau:

+ Đơn giá công tác tưới: Bằng tổng chi phí cho hoạt động tưới chia cho diện tích tưới của các loại cây trồng quy đổi ra lúa;

+ Đơn giá cho công tác tiêu: Bằng tổng chi phí cho hoạt động tiêu chia cho diện tích lưu vực;

+ Đơn giá cho công tác duy tu, duy trì công trình thủy lợi, xây dựng theo từng nội dung, theo từng đơn vị 01 chu kỳ quy định như: Kiểm tra vi phạm kênh, sông; thu gom rác, phế thải khu vực bờ, mái kênh, sông; vớt bèo, rau, rác trên mặt kênh mương tưới tiêu, mặt sông; kiểm tra, bảo dưỡng cống; quản lý, kiểm tra hồ đập; kiểm tra, bảo dưỡng bể lọc kỹ thuật; bảo vệ công trình đầu mối, nhà làm việc; chặt, phát, cắt cỏ, cây thuỷ sinh bằng thủ công; chặt, phát, cắt cỏ, cây thuỷ sinh bằng máy.

– Các chi phí cấu thành trong đơn giá: Xác định giá thành toàn bộ của sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi theo các khoản mục chi phí tại Điều 3, Điều 7 Nghị định 96/2018/NĐ-CP

Hàng năm điều chỉnh: Tăng tiền lương khi lương cơ sở tăng; tăng tiền điện tưới, tiêu do giá điện tăng; bổ sung công trình đầu mối do các trạm bơm mới đầu tư xây dựng.

(2) Điều chỉnh Nghị định số 96/2018/NĐ-CP

Cần quy định cụ thể các loại tài sản cố định phải trích khấu hao và các loại tài sản cố định không phải trích khấu hao. Ví dụ, các tài sản bằng đất hoặc các công trình xây đúc bằng bê tông ngoại trừ các dây chuyền sản xuất, văn phòng, máy móc thiết bị không phải trích khấu hao. Như vậy sẽ phù hợp với thực tiễn quản lý vận hành khai thác công trình thủy lợi. Ngoài ra, cần bổ sung quy định khấu hao tài sản cố định được đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách theo hình thức đối tác công tư.

Không tách chi phí sửa chữa thường xuyên ra khỏi cơ cấu giá bởi vì trong hoạt động quản lý khai thác công trình thủy lợi, kể cả cơ chế thủy lợi phí thì chi phí sửa chữa thường xuyên công trình thủy lợi là chi phí rất quan trọng bảo đảm cho công trình hoạt động. Cần tính đúng, tính đủ để giao quyền tự chủ cho chủ sở hữu hoặc đơn vị quản lý, đảm bảo tính minh bạch. Trường hợp xét thấy những khoản kinh phí lớn cần được hỗ trợ riêng thì phải tính bằng tỷ lệ % đối với chi phí này. Bên cạnh đó, đối với máy móc thiết bị cần tách bạch rõ chi phí “bảo dưỡng” với “sửa chữa” để tránh trùng lặp.

(3) Điều chỉnh lại thông tư Thông tư số 65/2021/TT-BTC

Đối với khoản kinh phí sửa chữa thường xuyên trong kinh phí bảo trì có nguồn vốn ngân sách nhà nước chi thường xuyên với tổng kinh phí lớn hơn 500 triệu đồng đề nghị phải thực hiện quyết toán dự án hoàn thành bên cạnh việc quyết toán hàng năm nhằm đảm bảo phù hợp với Luật đầu tư công và Luật xây dựng.

Đối với dự án sửa chữa thường xuyên sử dụng nguồn vốn ngân sách chi thường xuyên dưới 500 triệu đồng thì không thực hiện quyết toán dự án hoàn thành để phù hợp với quy định của Bộ tài chính về sử dụng ngân sách chi thường xuyên theo Thông tư số 63/2021/TT-BTC ngày 29/7/2021.

  1. KẾT LUẬN

Công trình thủy lợi có nhiều loại hình, nhiều kết cấu, nhiều mục tiêu sử dụng khác nhau. Phụ thuộc nhiều yếu tố về địa hình, vùng miền, khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng và các hình thức quản lý, khai thác. Vì vậy, khi xây dựng các văn bản pháp luật cần có đánh giá, phân tích tổng thể để đáp ứng với mọi đối tượng và loại hình quản  lý.

Thông qua nghiên cứu các văn bản pháp luật liên quan đến chính sách bảo trì công trình thủy lợi và thực tiễn áp dụng tại các đơn vị, địa phương cho thấy còn nhiều tồn tại, bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo, chưa phù hợp với thực tiễn quản lý, vận hành, khai thác công trình thủy lợi, rất cần sớm có nghiên cứu tổng thể, toàn diện để khắc phục tình trạng nêu trên để văn bản pháp luật thực sự phát huy vai trò trong quản lý nhà nước.

  1. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]  Quốc Hội 13.2014. Luật Xây dựng 50/2014/QH13.

[2] Chính Phủ.2021.Nghị định 06/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng.

[3] Chính Phủ.2021.Nghị định 96/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về giá sản phẩm dịch vụ thủy lợi và hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi.

[4] Bộ Tài Chính, 2021. Thông tư số 65/2021/TT-BTC quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công.

[5] Bộ Tài Chính. 2021. Thông tư 73/2018/TT-BTC hướng dẫn sử dụng nguồn tài chính trong quản lý, khai thác công trình thủy lợi.